Sau khi học xong lớp Bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương năm 2021, những học viên phải viết bài thu hoạch cuối khóa học.

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng nhằm đưa ra nội dung, phân tích những yếu tố tác động tới tác dụng công tác tham mưu trong lĩnh vực đang đảm nhiệm. Đồng thời cũng nêu ra những khó khăn đang gặp phải, cũng như đề xuất, giải pháp cho năm tiếp theo. Dưới đây là 2 mẫu bài thu hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng mời những bạn cùng xem thêm.

Mẫu bài thu hoạch bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng 

  • Hướng dẫn viết bài thu hoạch cuối khóa
  • Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng – Mẫu 1
  • Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng – Mẫu 2

Hướng dẫn viết bài thu hoạch cuối khóa

1. Mục đích

a) Là phần thu hoạch kỹ năng và kiến thức và kỹ năng thu nhận được từ chương trình đào tạo, bồi dưỡng 4 tuần cho lãnh đạo cấp phòng.

b) Giúp đánh giá mức độ kết quả học viên đã đạt được qua chương trình (kỹ năng và kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ).

c) Chỉ ra được khả năng vận dụng kỹ năng và kiến thức và kỹ năng đã thu nhận được vào thực tiễn tại vị trí công tác của lãnh đạo phòng.

2. Yêu cầu

a) Học viên cần viết bản đề án/thu hoạch hoàn chỉnh, Trong số đó nêu những kỹ năng và kiến thức và kỹ năng thu nhận được, phân tích công việc hiện nay và đề xuất vận dụng vào thực tiễn tại vị trí công tác của lãnh đạo phòng.

b) những yêu cầu sẽ được thông báo tới học viên khi bắt đầu khóa học.

3. Hướng dẫn

a) Độ dài: Không quá 12 trang A4 (không kể trang bìa, phần tài liệu xem thêm và phụ lục), sử dụng phông chữ Time New Roman, khổ chữ 14, cách dòng 1,5.

b) Cấu trúc: Do học viên thiết kế và biên soạn.

c) Văn phong, cách viết: Có phân tích và đánh giá, ý kiến nêu ra cần phải có số liệu minh chứng rõ ràng.

4. Đánh giá

a) Chấm điểm theo thang 10 điểm: Điểm đạt là từ 5 trở lên.

b) Xếp loại:

– Giỏi: 9 – 10 điểm;

– Khá: 7 – 8 điểm;

– Trung bình: 5 – 6 điểm;

– Không đạt: Dưới 5 điểm.

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng – Mẫu 1

I/ NHẬN THỨC VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

1/ ý nghĩa sâu sắc:

Lãnh đạo sự thay đổi là một quy trình xây dựng cầu nối giữa tầm nhìn và hành động, những nhà quản lý thường cố gắng triển khai sự thay đổi mà vẫn chưa để ý đến chiến lược của sự thay đổi. Trong nhiều tình huống mọi người không đón nhận sự thay đổi mà thay vào đó họ thường có thái độ phản kháng.Chuyên đề sẽ giúp ta nắm được cách thức và hướng giải quyết những khó khăn gặp phải trong quy trình triển khai sự thay đổi.

Ở Việt Nam, lãnh đạo và quản lý sự thay đổi là một vấn đề khá mới mẻ nhưng cũng đã hấp dẫn được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, sách bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của dự án công trình đào tạo giáo viên THCS, PGS.TS Đặng Xuân Hải đã nghiên cứu và cụ thể hóa những bước của quy trình quản lý sự thay đổi như sau:

Bước 1: Nhận diện sự thay đổi;

Bước 2: Chuẩn bị cho sự thay đổi;

Bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu;

Bước 4: Tìm những yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi;

Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho những bước lãnh đạo sự thay đổi;

Bước 6: Xác định trọng tâm của những mục tiêu;

Bước 7: kiểm tra những giải pháp;

Bước 8: Lựa chọn giải pháp;

Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc triển khai;

Bước 10: Đánh giá sự thay đổi;

Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

2/ Lãnh đạo và quản lý sự thay đổi:

2.1/ Thay đổi là gì: Thay đổi là quy trình vận động do tác động, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng, của những yếu tố bên trong và phía bên ngoài; thay đổi là thuộc tính chung của bất kì sự vật hiện tượng nào. Hay nói cách khác đơn giản hơn thay đổi là “Làm cho khác đi hay trở thành khác đi”

Những tác nhân gây ra sự thay đổi:

− Thay đổi về xã hội: chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách…

− Thay đổi về kinh tế: nông nghiệp chuyển dịch sang công nghiệp và dịch vụ, đổi mới phương tiện, công cụ, thay đổi công nghệ…

− Thay đổi về khoa học – công nghệ: vi tính, công nghệ thông tin…

− Thay đổi về giáo dục: chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất trường học…

2.2/ Thay đổi gồm có cả sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu

− Số lượng người học tạo thêm hay giảm đi.

− Chất lượng giáo dục so với chuẩn là cao hay thấp.

− Cơ cấu đủ hay thừa, thiếu.

− Cơ sở vật chất, phương tiện thay đổi.

− Tài chính tăng hay giảm.

− Giáo viên, cán bộ, nhân viên thay đổi.

2.3/ Thay đổi được hiểu ở những mức độ không giống nhau

− Cải tiến là tạo thêm hay giảm đi những yếu tố nào đó của sự vật để cho thích hợp hơn; không phải là sự thay đổi về thực chất.

− Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới; làm nảy sinh sự vật mới; còn được hiểu là cách tân; là sự thay đổi về thực chất của sự vật.

− Cải cách là loại bỏ cái cũ, bất hợp lý của sự vật thành cái mới hoàn toàn có thể thích hợp với tình hình khách quan; là sự thay đổi về thực chất nhưng toàn diện và triệt để hơn so với đổi mới.

− Cách mạng là sự thay đổi trọng đại, biến đổi tận gốc; là sự thay đổi cơ bản.

2.4/ Thay đổi một cách bị động

− không tồn tại sự chuẩn bị trước, bị tác động một cách tự nhiên, bột phát.

− Không dự kiến được hậu quả.

− Không biết là rất cần thiết hay không rất cần thiết.

2.5/ Chủ động thay đổi

− Dự kiến được kết quả.

− Biết được sự rất cần thiết.

− Có sự chuẩn bị trước, dự báo được tương lai.

2.6/ Mong muốn thay đổi

– Học có tác dụng và thích hợp hơn với cá nhân và xã hội.

– Nguyện vọng của gia đình và xã hội đối với việc học, đối với nhà trường.

– Nhu cầu học đa dạng và phong phú hơn.

2.7/ Đón nhận sự thay đổi

– Nhận biết và tìm được những người muốn thay đổi;

– Hãy cởi mở với họ và trở thành liên minh với họ!

– Nhận thấy tác dụng của thay đổi

– Nhận rõ sự thay đổi có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực

– thời cơ thay đổi cũng đồng thời với thử thách khi thay đổi

– những điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi hoàn toàn có thể vẫn chưa rõ ràng

– Những người đồng ý thay đổi hoàn toàn có thể còn quá ít

– Thay đổi hoàn toàn có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có thể có cả bất lợi

– Thay đổi là một quy trình tự nhiên

– Con người luôn sống với sự thay đổi: Từ trẻ sơ sinh đến trưởng thành và tuổi già. Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người cũng thay đổi theo thời gian.

– Giáo dục và trường học của Việt Nam cũng thay đổi qua những giai đoạn. Thay đổi là tất yếu. Muốn hay không muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ tác dụng hơn, tích cực hơn. Hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực! Cần thay đổi – phải thay đổi – nên thay đổi – hoàn toàn có thể thay đổi.

2.8/ Phản kháng sự thay đổi

– hoàn toàn có thể có nhiều người không đồng tình với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau.

– Người phản kháng thường hay tìm những lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi.

– Sự phản kháng sẽ giảm đi khi sự thay đổi có tác dụng tích cực nào đó.

– Cần thuyết phục, lôi kéo và minh chứng cho sự thay đổi.

2.9/ Nguyên nhân của sự thay đổi trường học

– Trường học có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố bên trong và phía bên ngoài, như:

– những nguyên nhân xã hội, kinh tế, khoa học – công nghệ.

– Nguyên nhân từ phía người học.

– Nguyên nhân từ phía người dạy.

– Nguyên nhân từ những cấp quản lý giáo dục và trường học.

– Nguyên nhân từ những cấp quản lý nhà nước và địa phương.

– Cần phải đáp ứng với nhu cầu học luôn biến đổi.

– Cần phải thích ứng và tạo ra những điều kiện, hoàn cảnh mới.

– Nhiều vấn đề mới đang đề ra cho nhà trường phải giải quyết.

* Thay đổi từ bên trong

– Số lượng học viên tăng hay giảm.

– Chất lượng dạy học cao hay thấp so với yêu cầu và mong muốn.

– Cơ sở vật chất, phương tiện thay đổi do xuống cấp hay có sự đầu tư mới.

– Năm học mới khác với năm học trước.

– Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có sự biến động.

– Từ mối quan hệ biện chứng đó hoàn toàn có thể tìm thấy những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sự thay đổi giáo dục và quản lý trường học

− Khoa học – công nghệ phát triển như “vũ bão” đã thể hiện rõ nét ở ác yếu tố sau:

+ “Bùng nổ” thông tin và sự lỗi thời nhanh gọn của thông tin.

+ Việc sử dụng những thế hệ máy tính điện tử và những phương tiện công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống ngày càng được tăng thêm nhanh gọn.

+ Khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; việc ứng dụng những thành tựu mới của khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống đang là thời cơ và thử thách đối với những vương quốc đang phát triển và đối với con người của những vương quốc ấy.

+ Sự phát triển của khoa học – công nghệ với tính chất nói trên đòi hỏi nhà trường phải có khả năng thích ứng với thông tin – công nghệ và phương tiện hiện đại.

− Nhà trường cần thay đổi để tạo điều kiện và phát huy khả năng tự học của HS, để họ hoàn toàn có thể học suốt đời; đó là yêu cầu tất yếu đối với con người trong thời đại ngày nay.

* Thay đổi từ phía bên ngoài

– Tuyển sinh thay đổi.

– Yêu cầu đầu ra (tốt nghiệp) thay đổi.

– Tình hình kinh tế – xã hội biến đổi.

– Yêu cầu đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện giáo dục.

– Môi trường địa phương có sự biến đổi.

3/ Sự rất cần thiết phải thay đổi

Thay đổi là một quy trình tự nhiên. Con người luôn sống với sự thay đổi từ trẻ sơ sinh đến trưởng thành và tuổi già; trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người thay đổi theo thời gian; nền giáo dục và trường học cũng thay đổi qua những thời kỳ…Thay đổi là thời cơ nhưng cũng là thử thách đối với cuộc đời của bất kể ai, của bất kể tổ chức nào.

Xã hội mà chúng ta đang sống đã và đang không ngừng thay đổi để tiến tới một xã hội thông tin và tri thức, nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng lao động “tư duy”. Để tồn tại và phát triển trong thời đại ngày nay, đối với mỗi người khả năng tự học và học suốt đời trở thành yêu cầu tất yếu và cần phải rèn luyện từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Với bối cảnh của việc dạy học đã thay đổi, khi giáo dục nhận được sự quan tâm lớn cũng như yêu cầu cao từ phía xã hội, những nhà trường phổ thông cần không ngừng đổi mới trong tư duy và thực tiễn điều hành, tổ chức lại hoạt động, thể hiện ở sự thay đổi trong cơ cấu điều hành, trong việc dạy và học, trong việc xác định rõ chuẩn về nội dung và kết quả giáo dục.

Trong nhà trường, sự thay đổi hoàn toàn có thể có một trong hai loại chủ yếu như: Do yêu cầu của xã hội đề ra cho nhà trường, đòi hỏi nhà trường phải thay đổi, phải đáp ứng hoặc do tự thân nhà trường thấy không thay đổi thì khó lòng đáp ứng được yêu cầu tồn tại và phát triển. Để nâng cao chất lượng giáo dục, giáo dục trong trường phổ thông phải thay đổi theo hướng lấy người học làm trung tâm, tạo môi trường an toàn cho người học học tập, rèn luyện và phát triển; khắc phục những trở ngại của sự thay đổi hiện nay đó là tư duy theo lối mòn, ngại thay đổi của giáo viên và một số cán bộ quản lý giáo dục. Thay đổi hoàn toàn có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có thể có cả bất lợi. Vì vậy, cần nhận thức rõ tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của sự thay đổi để từ đó có biện pháp phát huy tác dụng tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.

Thay đổi là tất yếu. Muốn hay không muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại tác dụng cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, giáo viên trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết đồng ý sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh gọn là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. thực tiễn cho thấy có nhiều người không đồng tình với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm những lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần phải có biện pháp thuyết phục, động viên kịp thời, minh chứng cho sự rất cần thiết và tính tất yếu phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa sâu sắc, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có biện pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công tác lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở những trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một việc làm quan trọng và rất cần thiết.

II/ NỘI DUNG CỤ THỂ

1/ Mục tiêu

Nghiên cứu tình hình lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học …………….

2/ Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài. Cụ thể là:

– Nghiên cứu lý thuyết về lãnh đạo và quản lý, Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự thay đổi trường học; lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trường học trong bài giảng của thầy .

3/ PP nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

– Phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở những trường phổ thông trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp điều tra: Điều tra khảo sát, lấy ý kiến của những nhà quản lý, những nhà giáo dục, giáo viên

– Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động của cán bộ quản lý, giáo viên và học viên trong trường nhằm đánh giá tình hình sự thay đổi ở trường

– Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn sâu những nhà quản lý, những nhà giáo dục, những thầy cô giáo tại ở trường

– Phương pháp lấy ý kiến Chuyên viên: Thu thập, lấy ý kiến của những Chuyên viên, những cán bộ quản lý có kinh nghiệm để định hướng cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học ……………….

– Phương pháp khảo nghiệm: Tổ chức khảo nghiệm về sự rất cần thiết và tính khả thi của những biện pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

Nhóm phương pháp xử lý số liệu

– Sử dụng một số phương pháp toán học như: Toán thống kê, tính trung bình cộng, tính tỷ lệ phần trăm…để xử lý số liệu thu được nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan

4/ Nội dung giải pháp triển khai:

+ Bước 1: Nhận diện sự thay đổi

Tìm hiểu số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong trường, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học; trạng thái của nhà trường và thói quen, sức ỳ của giáo viên đối với việc đổi mới phương pháp dạy học; xác định những thuận lợi, khó khăn khi triển khai chủ trương đổi mới phương pháp dạy học.

+ Bước 2: Chuẩn bị sự thay đổi

– Bắt đầu bằng việc quán triệt chủ trương đánh giá chất lượng ở trường trong giai đoạn hiện nay cho BGH ở trường , lãnh đạo những Phòng Giáo dục quận, huyện trong thành phố. Cán bộ quản lý ở trường cần tìm hiểu kỹ việc đánh giá chất lượng giáo dục ở trường, tác dụng của việc đánh giá chất lượng giáo dục ở trường ; quy trình lãnh đạo để bản thân có đủ kỹ năng và kiến thức để lãnh đạo vấn đề này trong thực tiễn nhà trường .

+ Bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu

Ở bước này người cán bộ quản lý cần nắm được tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên trong trường; ý thức chuyên môn và tinh thần đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên; tình hình thiết bị và điều kiện dạy học của nhà trường, v.v…

+ Bước 4: Tìm những yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi

Tìm điển hình nhiệt tình tham gia đổi mới phương pháp dạy học trong trường để khích lệ trào lưu; tạo điều kiện cho giáo viên có thành tích tốt, hay tâm huyết với việc tìm hiểu việc đổi mới phương pháp dạy học đi tham quan học tập tại một số trường điểm; cử giáo viên đi tập huấn theo chương trình của dự án công trình; đáp ứng tối đa yêu cầu trong điều kiện hoàn toàn có thể của giáo viên xung phong đi đầu trong việc đổi mới phương pháp; tạo cơ chế hỗ trợ những nguồn lực và khích lệ việc đổi mới phương pháp, v.v…

+ Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho những bước lãnh đạo sự thay đổi

Xác định mục tiêu ở bước thí điểm là kiểm tra khả năng vận dụng tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học cho một vài tiết của một vài giáo viên nêu trên. Bước tiếp theo sẽ được tiếp tục sau khi phân tích thành công, thất bại của bước thí điểm và lựa chọn bước đi tiếp theo.

kiểm tra quy trình triển khai thích hợp với từng giai đoạn nhưng kiên trì với mục đích sau cùng là đưa việc đổi mới phương pháp dạy học vào chương trình hành động hàng năm và duy trì lâu dài.

+ Bước 6: Xác định trọng tâm của những mục tiêu

Trọng tâm của mục tiêu là đổi mới cách thức triển khai và phát huy tác dụng của những phương pháp dạy học quen thuộc, đồng thời áp dụng từng bước những phương pháp dạy học hiện đại.

+ Bước 7: kiểm tra những giải pháp

Thông thường, để lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học người quản lý hoàn toàn có thể sử dụng một số giải pháp thúc đẩy như: Động viên, khuyến khích tinh thần, vật chất hay phối hợp cả hai; hướng dẫn, lãnh đạo sát sao, yêu cầu cụ thể đối với từng giáo viên tham gia vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở những bộ môn cụ thể, từng giờ học cụ thể; cung ứng, hỗ trợ những điều kiện nguồn lực; đánh giá kịp thời, khách quan mức độ triển khai những nội dung và chỉ title ra cho từng hoạt động, từng giai đoạn; khen – chê, thưởng – phạt kịp thời, công minh.

+ Bước 8: Lựa chọn giải pháp

Việc lựa chọn giải pháp thích hợp được hiệu trưởng xác định là nó phải tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể.

+ Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc triển khai

Quán triệt chủ trương, phổ biến những văn bản lãnh đạo; tranh luận khả năng và biện pháp triển khai chủ trương đổi mới phương pháp của trường; tạo điều kiện cho giáo viên triển khai; tổ chức dự giờ, đánh giá, rút kinh nghiệm theo tiêu chuẩn cụ thể của đổi mới phương pháp.

+ Bước 10: Đánh giá sự thay đổi

Đánh giá sự thay đổi nhận thức về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách soạn bài theo hướng đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách tổ chức giờ dạy theo hướng sư phạm tích cực; thay đổi cách đánh giá kết quả lĩnh hội của học viên, v.v…

+ Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

Việc đổi mới phương pháp dạy học được đưa vào kế hoạch hành động của giáo viên, những tổ bộ môn và của nhà trường.

5/ Tóm lại

Luật giáo dục đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học viên phát triển toàn diện về đạo đức, trí thệ, thể chất, thẩm mỹ và những kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học viên tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Thay đổi là tất yếu. Muốn hay không muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại tác dụng cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, giáo viên trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết đồng ý sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh gọn là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. thực tiễn cho thấy có nhiều người không đồng tình với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm những lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần phải có biện pháp thuyết phục, động viên kịp thời, minh chứng cho sự rất cần thiết và tính tất yếu phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa sâu sắc, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có biện pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công tác lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở những trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một việc làm quan trọng và rất cần thiết.

Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường………….” để nghiên cứu, ứng dụng trong quy trình được học bộ môn lãnh đạo và quản lý sự thay đổi áp dụng vào thực tiễn hoạt động và công tác tại trường. Đặc biệt và trân trọng cảm ơn thầy.

Người viết

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng – Mẫu 2

BÀI THU HOẠCH
LỚP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ CẤP PHÒNG …

Câu hỏi: Nội dung chủ yếu trong công tác tham mưu của lãnh đạo cấp phòng? Phân tích những yếu tố tác động tới tác dụng công tác tham mưu trong lĩnh vực công tác đang đảm nhiệm? Những khó khăn trở ngại thường gặp phải khi triển khai tác dụng tham mưu của lãnh đạo cấp phòng và đề xuất giải pháp khắc phục?

Nội dung thu hoạch

I. NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG

Trong bộ máy quản lý nhà nước, phòng là một cấp. tác dụng chung của cấp phòng là chuyển tải và tổ chức triển khai những quyết định của cấp trên trực tiếp và phản ánh những yêu cầu, nguyện vọng, đề xuất của công chức đơn vị với lãnh đạo cấp trên. Trong quan hệ với những chủ trương chính sách của Nhà nước, phòng là một cấp có tác dụng tư vấn triển khai. Về vị trí, Phòng là tổ chức chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ của một cơ quan, đơn vị. Phòng được cơ cấu trong tổ chức cấp bộ, tổng cục, cục, sở, ngành cấp huyện và trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước ở Trung ương.

Nội dung công việc của phòng là những lĩnh vực có tính chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ. Do vị trí, cấp độ phòng không giống nhau nên nhiệm vụ cụ thể của phòng ở mỗi cấp không giống nhau. Nhiệm vụ, quyền hạn của lãnh đạo phòng chủ yếu triệu tập vào hai mảng: (i) lãnh đạo triển khai chủ trương, chính sách, quyết định quản lý của cấp trên; (ii) Tham mưu công tác cho lãnh đạo.

Phòng có tác dụng tham mưu, giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ trên những lĩnh vực thích hợp với tác dụng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao.

Theo TS. Trần Đình Huỳnh: “Tham mưu là khi một tổ chức hoặc một cá nhân tham gia (tham gia) vào việc đề xuất thiết kế một kế hoạch, một chương trình và tổ chức triển khai (thi công) những kế hoạch, chương trình của một chủ thể quyền lực lãnh đạo, quản lý nhất định”. Tham mưu không chỉ có là tham gia, đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, mà còn là hướng dẫn và lãnh đạo triển khai về lĩnh vực mình đảm trách cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tham mưu cấp dưới. Trên cơ sở tác dụng, nhiệm vụ, người lãnh đạo phòng cụ thể hóa nội dung cần tham mưu cho cấp trên gồm: (i) Tham mưu trong xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy trình quản lý; (ii) Tham mưu xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch công tác của phòng; (iii) Tham mưu kế hoạch và biện pháp kiểm tra, giám sát triển khai để kịp thời điều chỉnh kế hoạch, hoạt động và nguồn lực; (iv) Tham mưu phối hợp trong triển khai triển khai những đề án, kế hoạch chung.

Xét cả về tác dụng tham gia lẫn tác dụng hướng dẫn tổ chức triển khai thì cơ quan và công chức tham mưu đều có thuộc tính lãnh đạo, quản lý và đồng thời phải cùng phụ trách với người lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực mình tham mưu. Không nên hiểu đơn thuần tham mưu chỉ là giúp việc, là bảo sao làm vậy. Tham mưu có trách nhiệm thì đồng thời phải có quyền hạn.

Người lãnh đạo phòng làm công tác tham mưu cần phải có bản lĩnh, hiểu biết và một hệ tiêu chuẩn cụ thể. Một số yêu cầu cụ thể đối với công tác tham mưu của lãnh đạo phòng gồm có: (i)Tham mưu phải bảo đảm tính thích hợp pháp lý, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức; (i)Trung thực và chính xác với thái độ nghiêm túc trong công việc; (iii)Tham mưu phải kịp thời, có tính nguyên tắc cao, nhưng kiểm tra giải quyết công việc cụ thể với thái độ khách quan, biện chứng; (iv)Tham mưu phải đầy đủ, toàn diện, song không định kiến, hẹp hòi, không bảo thủ. Tham mưu phải góp phần hình thành, củng cố và phát triển văn hóa của tổ chức, hoàn thiện quy trình công tác và phát huy tiềm năng của mọi thành viên, đóng góp vào thành công của phòng nói riêng và cơ quan nói chung; (v)Tham mưu đồng thời phải góp phần nâng cao tác dụng phối hợp công tác giữa những phòng, những cá nhân trong tổ chức, đơn vị, cũng như nâng cao tác dụng phối hợp công tác giữa những đơn vị trong và ngoài ngành…

Do vậy, người lãnh đạo phòng làm công tác tham mưu phải có năng lực chuyên môn sâu, tinh thông về lĩnh vực mình đảm trách, với tính chuyên nghiệp cao. Tài năng và trách nhiệm của tham mưu là khả năng nâng cao để đưa ra những phương án, kế hoạch, chương trình, những phương án và tính toán dự báo có căn cứ về tính tác dụng và hệ quả của từng chương trình, phương án. Ngoài ra, để triển khai tốt công tác tham mưu, lãnh đạo phòng cần phải có những kỹ năng: (i)Kỹ năng phát hiện và lựa chọn vấn đề; (ii)Kỹ năng chuẩn bị thông tin, căn cứ, lỹ lẽ; (iii)Kỹ năng lựa chọn thời gian và địa điểm; (iv)Kỹ năng lựa chọn phương pháp và dự kiến kết quả; (v)Kỹ năng trình diễn và thuyết phục.

Trong công tác tham mưu, lãnh đạo phòng cần tuân thủ những nguyên tắc sau: (i) Tham mưu phải căn cứ vào tác dụng, nhiệm vụ, quyền hạn được cấp có thẩm quyền giao; (ii)Tham mưu phải nhằm triển khai cho được những mục tiêu của đơn vị và của cấp phòng. Tuyệt đối không để đầu óc vụ lợi, thiên vị, xen lẫn động cơ cá nhân; (iii)Tham mưu phải tuân thủ theo đúng pháp lý; (iv)Phải dựa trên cơ sở khoa học, khách quan; (v)Trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, phấn đấu vì hôm nay và tương lai đẹp đẽ của giang sơn.

Tóm tại, tham mưu là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo phòng, công tác tham mưu là một nghề nâng cao, có tính chuyên nghiệp cao. Lãnh đạo phòng phải có hiểu biết, kỹ năng, năng lực để triển khai tốt nhiệm vụ tham mưu theo những yêu cầu và nguyên tắc nhất định.

II. những YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI tác dụng CÔNG TÁC THAM MƯU TRONG LĨNH VỰC CÔNG TÁC

Để triển khai tốt công tác tham mưu, người lãnh đạo phòng cần phải thu thập và xử lý thông tin chính xác để nắm bắt rõ vấn đề cần tham mưu, có kỹ năng soạn thảo và quản lý văn bản khoa học và kỹ năng trình diễn, thuyết phục để hoàn toàn có thể tham gia đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, đồng thời hướng dẫn và lãnh đạo triển khai về lĩnh vực mình đảm trách cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tham mưu cấp dưới. Ngoài những nhân tố chủ quan về phía người lãnh đạo, trong thực tiễn còn có những yếu tố tác động tới công tác tham mưu là thời gian xử lý công việc quá gấp hoặc có nhiều vấn đề đồng thời phải xử lý tác động tới tác dụng công tác tham mưu.

1. Thu thập và xử lý thông tin

a) Thu thập thông tin

Khi thực thi hoạt động công vụ, điều quan trọng là có được những thông tin và dữ liệu thích hợp, rất cần thiết phục vụ cho công việc của bản thân và của cơ quan, đơn vị, qua đó đóng góp cho việc hoàn thành mục tiêu chung. Tuy nhiên do những thông tin của sự vật, hiện tượng cần thống kê thường thay đổi theo thời điểm thống kê, để có thông tin chính xác cần nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, kiểm tra thực tiễn, phỏng vấn, dùng phiếu điều tra… Mỗi phương pháp đều có những ưu thế và nhược điểm riêng, do đó cần phối hợp những phương pháp một cách thích hợp để có được thông tin chính xác, tin cậy, nhanh gọn, tiết kiệm.

b) Xử lý thông tin

Thông tin sau khi thu thập dù đảm bảo tính chính xác nhưng vẫn chưa thể tham mưu ngay được mà cần phải tổng hợp, phân loại thông tin theo những lĩnh vực, theo mục tiêu quản lý để có được Tóm lại về tình hình, tình hình vấn đề cần tham mưu. Lúc này thông tin trở thành dữ liệu, tức là từ những đơn vị nhỏ trở thành những đơn vị phân tích lớn hơn (ví dụ những thông tin từ những điểm trường, những trường trở thành thông tin những cấp học) cần phải lưu trữ dưới dạng thích hợp để phân tích. Điều quan trọng là sắp xếp dữ liệu dưới dạng hệ thống và mang tính tổng quát. Để làm được điều này cần phải có những bảng biểu hoặc mẫu báo cáo được thiết kế thích hợp, bao quát được những thông tin hoàn toàn có thể có để đảm bảo việc tổng hợp được nhanh gọn.

Trong thu thập thông tin định lượng (số liệu) sẽ rất hữu ích khi ứng dụng CNTT với những bảng biểu được thiết kế trên phần mềm và những đơn vị cơ sở chỉ việc nhập thông tin theo biểu mẫu có sẵn. Đối với những thông tin ở dạng định tính, sau khi được thu thập qua những báo cáo, những phiếu khảo sát cần phải tổng hợp và phân tích theo những phương pháp khoa học để tránh việc đánh giá chủ quan. Việc tổng hợp thông tin sau cùng được hệ thống trong một báo cáo tổng quan và lãnh đạo phòng phải kiểm soát được tính chính xác, khoa học của thông tin ở báo cáo sau cùng này trước khi tham mưu.

2. Soạn thảo và quản lý văn bản

a) Soạn thảo văn bản

Kết quả của công tác tham mưu thường là một văn bản xây dựng, bổ sung, hoàn thiện, lãnh đạo, điều hành…những cơ chế chính sách, quy trình quản lý hoặc văn bản kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát…việc triển khai những đề án, kế hoạch. Nếu kỹ năng soạn thảo văn bản không tốt sẽ làm chậm trễ thời gian trong tham mưu, nối dài thời gian trong những thủ tục hành chính; những văn bản không đúng thể thức, nội dung khó hiểu còn làm tác động tới tác dụng quản lý của cấp trên và tác động trực tiếp tới tác dụng lãnh đạo, hướng dẫn trong tham mưu của lãnh đạo cấp phòng.

Do đó trong quy trình tham mưu lãnh đạo phòng cần phải làm chủ những kỹ năng soạn thảo, những quy định về trình diễn văn bản hành chính (theo Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình diễn văn bản hành chính); quy định về trình diễn văn bản quy phạm pháp lý (theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật phát hành văn bản quy phạm pháp lý năm 2015); về trình diễn những văn bản chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính kế toán, lĩnh vực xây dựng theo những quy định của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng.

b) Quản lý văn bản

Trong công tác tham mưu cần căn cứ vào những văn bản quy định, những văn bản lãnh đạo điều hành của cấp trên, văn bản cung ứng thông tin số liệu của cấp dưới, trong những văn bản được lưu giữ…; trong những công việc cụ thể có rất nhiều văn bản liên quan và theo thời gian những văn bản cần lưu giữ càng phức tạp cả về số lượng lẫn chủng loại. Do đó để có căn cứ triển khai công tác tham mưu cần phải quản lý tốt văn bản đi, văn bản đến và xây dựng hồ sơ văn bản một cách khoa học, hợp lý.

3. trình diễn và thuyết phục

Đê triển khai công tác tham mưu, lãnh đạo phòng thường xuyên phải báo cáo, trình diễn, đề xuất và kiến nghị với cấp trên trực tiếp, hoặc công chức quản lý của những cơ quan, đơn vị liên quan. Do vậy, khi trình diễn bằng lời nói đôi khi có một số khó khăn nhỏ khi lãnh đạo không tồn tại nhiều thời gian để nghe trình diễn hoặc áp đặt ý kiến của lãnh đạo. Ngoài ra, trong những khi trao đổi công việc với cấp dưới, nếu trình diễn rõ ràng và thuyết phục sẽ tăng được tác dụng trong công tác điều hành. Tuy nhiên đây không phải là vấn đề then chốt, đòi hỏi người nhân viên cần trau dồi hơn nữa về kỹ năng thuyết phục và trình diễn nội dung tham mưu.

Trong trình diễn cần lưu ý yếu tố cấp bậc, chức vụ của đối tượng lắng nghe. Khi trình diễn với cấp trên, nên làm rõ những điểm, ý chính, trao đổi chính xác và để ý lắng nghe/ghi chép những nhận xét, ý kiến của cấp trên. Khi nói chuyện với cấp dưới, luôn luôn giải thích chi tiết những vấn đề và lấy ý kiến nhân viên cấp dưới xem họ suy nghĩ và phản hồi thế nào về vấn đề đó.

4. Có nhiều vấn đề cùng một lúc cần phải xử lý

Trong quy trình tham mưu có nhiều công việc trong kế hoạch đến hạn phải tham mưu và nhiều công việc đột xuất xảy ra phải giải quyết, như vậy sẽ tác động đến tác dụng, chất lượng, quy trình của quy trình tham mưu.

5. Thời gian giải quyết công việc

Đôi khi những nội dung yêu cầu tham mưu có thời hạn xử lý ngắn điều đó sẽ tác động đến chất lượng của văn bản tham mưu. Thời gian giành riêng cho việc thu thập, update thông tin ít dẫn đến số liệu, dẫn chứng vẫn chưa đủ sức thuyết phục.

III. NHỮNG KHÓ KHĂN TRỞ NGẠI THƯỜNG GẶP KHI triển khai tác dụng THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1. Khó khăn trở ngại trong triển khai tác dụng tham mưu

Có nhiều khó khăn trở ngại từ nhiều phái khi triển khai tác dụng tham mưu của lãnh đạo cấp phòng tuy nhiên có một số khó khăn cản trở chính sau:

a) Nguyên nhân chủ quan

Người lãnh đạo cấp phòng làm công tác tham mưu không tồn tại đủ trình độ kỹ năng và kiến thức chuyên môn (yếu chuyên môn) vì vậy người lãnh đạo, quản lý cấp phòng không tồn tại trình độ chuyên môn tốt sẽ không tồn tại khả năng phối hợp chuyên môn với những thành viên trong phòng. Hay nói cách khác, người lãnh đạo không tồn tại chuyên môn sẽ không tồn tại yếu tố để tác động đến người khác, không thuyết phục được người khác, không lôi cuốn người khác.

Người lãnh đạo cấp phòng không đủ phẩm chất chính trị, lập trường tư tưởng không vững vàng, tham mưu trái chủ trương, đường lối của Đảng, không đúng quy định của pháp lý vì vậy tham mưu không chuẩn.

Người lãnh đạo cấp phòng không đủ về kỹ năng kinh nghiệm. Năng lực lãnh đạo của nhà lãnh đạo, quản lý cấp phòng được phát triển qua kinh nghiệm thực tiễn, qua những cọ xát, thử thách với công việc từng ngày. Từ những nền tảng lý thuyết phối hợp với thực tiễn của chính bản thân, người lãnh đạo có những quyết định đúng đắn xử lý những tình huống xảy ra trong hoạt động của phòng. Nếu thiếu kinh nghiệm này thì người lãnh đạo cấp phòng sẽ gặp những khó khăn như không biết diễn đạt bằng văn bản, thuyết phục không được hoặc thuyết phục không đúng lúc, đúng chỗ.

Nếu người lãnh đạo cấp phòng là người hẹp hòi, ích kỷ chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết mà không nghĩ đến lợi ích chung thì việc tham mưu sẽ không đạt được tác dụng.

b) Nguyên nhân khách quan

Từ phía người được tham mưu: Quản lý cấp trên được tham mưu nếu là người độc đoán, cố chấp, bảo thủ, quan liêu… sẽ không chịu nghe ý kiến tham mưu từ cấp dưới chính vì vậy sẽ không phát huy được tính sáng tạo và kinh nghiệm của cấp dưới. Bên cạnh đó, năng lực của nhân viên trong phòng hoặc cấp cơ sở hạn chế cũng tác động tới công tác tham mưu, dẫn đến quy trình tham mưu chậm trễ, thiếu chính xác hoặc triển khai không đạt yêu cầu.

Về cơ chế quản lý, lãnh đạo cấp phòng không tồn tại quyền hạn trực tiếp trong việc tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng, điều chuyển, sa thải… nhân viên thuộc lĩnh vực quản lý của tớ dẫn tới những bất cập trong đội ngũ không được giải quyết triệt để.

Ngoài ra còn có cản trở từ những yếu tố khác như: bối cảnh kinh tế, chính trị chi phối, sự bất cập trong những văn bản lãnh đạo điều hành, sự chậm trễ trong những thủ tục hành chính… khiến nội dung tham mưu không thể triển khai được.

2. Giải pháp khắc phục

a) Về phía người tham mưu

Luôn vững tinh thần và quan điểm khi tham mưu phải nghĩ đến lợi ích chung. Tăng cường hiểu biết sâu về chuyên môn, nghiệp vụ để tham mưu có tác dụng. Người lãnh đạo có trình độ chuyên môn tốt sẽ là tấm gương cho những thành viên khác noi theo, có khả năng phối hợp chuyên môn với những thành viên khác, sử dụng chuyên môn như một yếu tố tác động đến người khác, lôi cuốn người khác theo mình, là người cầm cân nảy mực.

Nắm vững chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, những quyết định của Nhà nước để tham mưu cho đúng.

Tăng cường những kỹ năng để phục vụ cho công tác tham mưu như: soạn thảo văn bản, kỹ năng thuyết trình, thuyết phục…

b) Về phía người được tham mưu:

cần phải có cái nhìn biện chứng, tránh định kiến vì điều này tạo thành những hậu quả không tốt, một mặt nó làm cho người dưới quyền chống lại người lãnh đạo ở mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp. Mặt khác nó làm giảm sút sự tham gia của những thành viên khi giải quyết những công việc của đơn vị.

Người được tham mưu cần phải có kỹ năng nghe thật tốt, phải ghi nhận lắng nghe, biết chọn lựa những ý kiến được tham mưu để đưa ra những quyết định tác dụng nhất.

Nhân viên của phòng phải nâng cao tinh thần chủ động trong công việc, tự học tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm.

Hoàn thiện đồng bộ cơ chế tổ chức, tuyển dụng, bố trí sử dụng cán bộ, xây dựng cơ chế đặc trưng riêng cho cán bộ, chuyên viên có năng lực trong bộ máy tham mưu theo hướng khuyến khích nhân sự chất lượng tốt, linh hoạt trong bổ nhiệm, tuyển dụng./.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *