Kể từ khi xây dựng đến nay, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đảng đã phát hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là cơ sở, nền móng vững chắc bảo đảm cho Đảng luôn trong trắng, vững mạnh. Thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhận thức được nâng cao hơn, tư duy được đổi mới hơn, tư tưởng được thống nhất hơn, thể hiện ở việc đã tạo được sự nhất trí trong Đảng.

tiếp trong tương lai, Download.vn xin giới thiệu đến những bạn mẫu Bài thu hoạch những nội dung chính trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở hiện nay được chúng tôi tổng hợp và đăng tải ngay tiếp trong tương lai. Đây là mẫu bài thu hoạch phân tích nhiệm vụ của đảng viên trong công tác xây dựng đảng ở cơ sở đưa ra những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng đảng ở cơ sở hiện nay. Mời những bạn cùng tìm hiểu thêm.

Bài thu hoạch những nội dung chính trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở hiện nay

Từ trước đến nay, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sâu sắc sống còn đối với Đảng ta, cơ chế ta. Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không tồn tại nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng không tồn tại nghị quyết về xây dựng Đảng. Cụ thể là: Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI”; Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) về“Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 – khoá VIII) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Tóm lại Hội nghị Trung ương 4 (khoá IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X): “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”…

vì vậy, chúng ta tiến hành công tác xây dựng Đảng thường xuyên, liên tục trong nhiều nhiệm kỳ, nhiều cuộc vận động với nhiều biện pháp cơ bản và quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta, đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc đổi mới. Qua thực tiễn, Đảng ta ngày càng tiến bộ và trưởng thành. Song, nghiêm khắc nhìn nhận, trong quy trình lãnh đạo cách mạng, Đảng vẫn còn đấy đó không ít hạn chế, thậm chí có mặt nghiêm trọng, có khuyết điểm, yếu kém phải sửa chữa cấp bách nhưng vẫn chưa khắc phục được như mong muốn, có mặt còn phức tạp thêm, gây do dự, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trong tình hình đó, sự chống phá quyết liệt của những quyền lực thù địch, phản động, với những thủ đoạn, thủ đoạn thâm độc, tinh xảo, hòng xóa sổ Chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa sổ cơ chế xã hội chủ nghĩa ở VN và xóa sổ sự lãnh đạo của Đảng, đã làm cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta gặp không ít khó khăn, thử thách.

Trước yêu cầu mới ngày càng cao của công cuộc đổi mới, nếu Đảng không giữ vững thực chất cách mạng của tớ, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí và hành động; không trong trắng về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa tổ quốc đi lên. Chính vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục bàn và phát hành Nghị quyết Trung ương 4: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết Trung ương 4 được viết rất ngắn gọn, nhưng chứa nhiều nội dung cơ bản và quan trọng với tư tưởng chỉ huy xuyên suốt là kiên quyết, kiên trì triển khai với quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, gắn với triển khai tổng thể những nghị quyết khác của Đảng để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém nối dài trong Đảng và tạo bước đột phá về công tác cán bộ. Nghị quyết không dàn trải, mà triệu tập nêu và giải quyết nội dung cốt lõi là 3 vấn đề cấp bách và 4 nhóm giải pháp.

Ba vấn đề cấp bách là:

(1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý những cấp.

(2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế.

(3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Bốn nhóm giải pháp triển khai:

(1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên.

(2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng.

(3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách.

(4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

Những kết quả bước đầu cơ bản và chủ yếu

Qua hơn 4 năm triển khai, Đại hội XII của Đảng nhận định: “Việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng; có tác động thúc đẩy tổ quốc vượt qua khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, củng cố thêm niềm tin trong Đảng và nhân dân”.

Về vấn đề cấp bách thứ nhất: Để triển khai vấn đề này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và những cấp ủy, tổ chức đảng triệu tập lãnh đạo, chỉ huy triển khai đồng bộ những nhóm giải pháp và triển khai có kết quả một số nội dung sau:

1- Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình

Việc kiểm điểm tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư được Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu. Việc kiểm điểm tập thể và cá nhân ở những cấp được đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu, Trong số đó có một số tập thể và cá nhân phải kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại. trải qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình ở những cấp theo Nghị quyết Trung ương 4 đã tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm và góp phần làm trong trắng Đảng. Trong 5 năm (chủ yếu là 4 năm triển khai Nghị quyết Trung ương 4), toàn Đảng đã xử lý kỷ luật gần 1.400 tổ chức đảng và hơn 74.000 đảng viên ở những cấp. Trong số bị kỷ luật, có 82 tỉnh ủy viên và tương đương; hơn 1.500 huyện ủy viên và tương đương; gần 3.000 đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức cách chức; hơn 8.700 bị khai trừ ra khỏi Đảng và hơn 4.300 cán bộ, đảng viên phải xử lý bằng pháp lý. Những hạn chế, khuyết điểm được Tóm lại sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình ở những cấp đã kịp thời giải quyết, xử lý dứt điểm được một số vụ việc nổi cộm, bức xúc trong dư luận ở những địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần củng cố thêm niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng và sự lãnh đạo của Đảng được nâng lên.

Qua kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và kiểm điểm hằng năm, nhiều đồng chí nhận diện rõ hơn những thể hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống như: Trong công tác và sinh hoạt còn nể nang, tránh mặt, ngại va quệt, “dễ người, dễ ta”, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; còn nể nang, tránh mặt trong đấu tranh phê bình, góp ý với đồng chí, nhất là với lãnh đạo; vẫn chưa hết lòng hết sức vì công việc, vì dân, vẫn chưa làm tròn bổn phận, chức trách, nhiệm vụ được giao; còn tư tưởng vẫn chưa thực sự yên tâm công tác, vẫn chưa gắn bó lâu dài với cơ quan, ngại khó, ngại khổ, chọn việc dễ, bỏ việc khó, làm việc cầm chừng, kết quả thấp, chọn việc có nhiều điều kiện, thời điểm phát triển, thăng tiến hoặc thu được nhiều lợi ích, có thu nhập cao; thích làm việc ở cơ quan nhà nước, không thích làm việc ở cơ quan của Đảng, Quốc hội, đoàn thể chính trị xã hội, thích làm việc ở gần nhà, không muốn nhận nhiệm vụ ở nơi xa, có nhiều khó khăn, gian khổ, điều kiện khắc nghiệt; trông chờ, ỷ lại cấp trên, sa sút ý chí, thờ ơ, vô cảm trước nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, dao động trước khó khăn… một số cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng, tư tưởng bình quân chủ nghĩa, đoàn kết xuôi chiều; ý thức tổ chức, kỷ luật vẫn chưa nghiêm; khi nghỉ hưu, nghỉ công tác tự bỏ sinh hoạt hoặc xin miễn sinh hoạt; có một số đảng viên là hội viên hội cựu chiến binh rất có thể hiện công thần, bảo thủ, thiếu gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống.

2- Về lãnh đạo, chỉ huy đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí được Bộ Chính trị, Ban Bí thư và những cấp ủy, tổ chức đảng triệu tập lãnh đạo, chỉ huy với quyết tâm cao và đạt một số kết quả bước đầu:

– Ban Chấp hành Trung ương quyết định tái lập Ban Nội chính Trung ương và Ban Nội chính những tỉnh ủy, thành ủy để tham mưu cho những cấp ủy về công tác nội chính, đồng thời là cơ quan Thường trực của Ban chỉ huy Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

– Bộ Chính trị đã quyết định: xây dựng Ban chỉ huy Trung ương về phòng, chống tham nhũng với thành phần tương thích hơn và chọn khâu đột phá là: đẩy mạnh quy trình, xử lý nghiêm minh những vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; phát hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý những vụ việc, vụ án tham nhũng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý;…

– Ban chỉ huy Trung ương về phòng, chống tham nhũng tăng cường chỉ huy công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; cho chủ trương chuyển nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cho cơ quan tính năng điều tra, truy tố và xét xử công khai minh bạch theo quy định của pháp lý (Năm 2012, Ban chỉ huy lập 7 đoàn kiểm tra ở 11 tỉnh, thành phố và 7 cơ quan Trung ương; bổ sung 43 vụ án, 25 vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thuộc diện Ban chỉ huy Trung ương theo dõi. Năm 2013, lập 4 đoàn kiểm tra, giám sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử những vụ án tham nhũng lớn ở 8 tỉnh, thành phố. Năm 2014, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng ở 7 bộ, ngành Trung ương. Năm 2015, lập 7 đoàn kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại 4 bộ và 10 tỉnh, thành phố).

– Quốc hội bổ sung, sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng; Chính phủ phát hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng. Ban cán sự đảng Chính phủ xây dựng Đề án “Tăng cường triển khai và kiểm soát việc kê khai tài sản”. những bộ, ngành Trung ương và địa phương bổ sung, sửa đổi, phát hành một số quy định, quy chế, cơ chế, chính sách về quản lý tài chính; chi tiêu, mua sắm tài sản công; quản lý và sử dụng xe công; về sử dụng ngân sách nhà nước trong việc đi công tác, học tập, nghiên cứu ở quốc tế; quản lý vốn trong những doanh nghiệp nhà nước;…

………..

Mời những bạn tải file tài liệu để xem thêm nội dung chi tiết

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *