Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 đã được Bộ Y tế phát hành tại Quyết định 3351/QĐ-BYT vào trong ngày 29/07/2020. Hiệu lực của văn bản pháp lý này sẽ bắt đầu từ ngày được phát hành. tiếp trong tương lai sẽ là nội dung chi tiết của quyết định này, xin mời những bạn cùng tìm hiểu thêm.

BỘ Y TẾ
_____

Số: 3351/QĐ-BYT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
________________________

TP. Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH 3351/QĐ-BYT

về sự việc phát hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-Cov-2)

___________

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 của Chính phủ quy định công dụng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;

- dọn dẹp và sát trùng những dụng cụ (ống nghe, nhiệt kế) trước khi sử dụng cho từng người bệnh.

- Tránh làm nhiễm bẩn những bề mặt môi trường xung quanh như cửa phòng, công tắc đèn, quạt…

- Đảm bảo phòng bệnh thoáng khí, mở những cửa sổ phòng bệnh (nếu có).

- Hạn chế di chuyển người bệnh

- dọn dẹp tay

4. Áp dụng những biện pháp dự trữ lây truyền qua đường không khí.

- những nhân viên y tế khi khám, chăm sóc người bệnh đã xác định chẩn đoán, hoặc/và làm những thủ thuật như đặt ống nội khí quản, hút đường hô hấp, soi phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng những thiết bị bảo vệ cá nhân gồm có đeo găng tay, áo choàng, bảo vệ mắt, khẩu trang N95 hoặc tương đương.

- Nếu rất có thể, tiến hành thủ thuật ở phòng riêng, hoặc phòng áp lực âm.

- Hạn chế người không liên quan ở trong phòng khi làm thủ thuật

VIII. ĐIỀU TRỊ

1. Nguyên tắc điều trị chung

- Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo những mức độ nghiêm trọng của bệnh:

+ những trường hợp bệnh nghi ngờ (rất có thể coi như tình trạng cấp cứu): rất cần phải khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại những cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.

+ Trường hợp bệnh xác định rất cần phải theo dõi và điều trị cách ly hoàn toàn.

+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại những khoa phòng thông thường.

+ Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) rất cần phải điều trị tại những phòng cấp cứu của những khoa phòng hoặc hồi sức tích cực.

+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) rất cần phải điều trị hồi sức tích cực.

- Do vẫn chưa xuất hiện thuốc đặc hiệu, điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng là chủ yếu.

- Cá thể hóa những biện pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc biệt là những ca bệnh nặng-nguy kịch.

- rất có thể áp dụng một số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế được chấp nhận. bệnh.

- Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời những tình trạng nặng, biến chứng của bệnh.

2. những biện pháp theo dõi và điều trị chung

- Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh rất cần phải đảm bảo thông thoáng, rất có thể sử dụng hệ thống lọc không khí hoặc những biện pháp khử trùng phòng bệnh khác như đèn cực tím (nếu có).

- dọn dẹp mũi họng, rất có thể giữ ẩm mũi bằng nhỏ dung dịch nước muối sinh lý, xúc miệng họng bằng những dung dịch dọn dẹp miệng họng thông thường.

- Giữ ấm

- Uống đủ nước, đảm bảo cân bằng dịch, điện giải.

- Thận trọng khi truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng không tồn tại dấu hiệu của sốc.

- Đảm bảo dinh dưỡng và nâng cao thể trạng, bổ xung Vi-Ta-Min nếu thiết yếu. với những người bệnh nặng - nguy kịch, áp dụng hướng dẫn dinh dưỡng của Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã phát hành.

- Hạ sốt nếu sốt cao, rất có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, không quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ em và không quá 2 gam/ngày với người lớn.

- Giảm ho bằng những thuốc giảm ho thông thường nếu thiết yếu.

- Đánh giá, điều trị, tiên lượng những tình trạng bệnh lý mãn tính kèm theo (nếu có).

- Tư vấn, hỗ trợ tâm lý, động viên người bệnh.

- Theo dõi chặt chẽ những dấu hiệu lâm sàng, tiến triển của tổn thương phổi trên phim X-quang và/hoặc CT phổi, đặc biệt trong vòng ngày thứ 7-10 của bệnh, phát hiện những dấu hiệu tiến triển nặng của bệnh như suy hô hấp, suy tuần hoàn để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

- Tại những cơ sở điều trị cần phải có những trang thiết bị, dụng cụ cấp cứu tối thiểu: máy theo dõi độ bão hòa ô xy, hệ thống/bình cung ứng ô xy, thiết bị thở ô xy (gọng mũi, mask thông thường, mask có túi dự trữ), bóng, mặt nạ, và dụng cụ đặt ống nội khí quản tương thích những lứa tuổi.

3. Điều trị suy hô hấp

3.1. Liệu pháp ô xy và theo dõi

- Cần cho thở ô xy ngay với bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp nặng có suy hô hấp, thiếu ô xy máu, sốc để đạt đích SpO2 > 94%.

- Ở người lớn nếu có những dấu hiệu cấp cứu (gắng sức nặng, rút lõm lồng ngực, tím tái, giảm thông khí phổi) cần làm thông thoáng đường thở và cho thở ô xy ngay để đạt đích SpO2 ≥ 94 % trong quy trình hồi sức. Cho thở ô xy qua gọng mũi (1-4 lít/phút), hoặc mask thông thường, hoặc mask có túi dự trữ, với lưu lượng thuở đầu là 5 lít/phút và tăng thêm tới 10-15 lít/phút nếu cần. Khi bệnh nhân ổn định hơn, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 % cho người lớn, và SpO2 ≥ 92-95% cho phụ nữ mang thai.

- Với trẻ em, nếu trẻ có những dấu hiệu cấp cứu như nghẹt thở nặng, tím tái, sốc, hôn mê, co giật..., cần cung ứng ô xy trong quy trình cấp cứu để đạt đích SpO2 ≥ 94%. Khi tình trạng trẻ ổn định, điều chỉnh để đạt đích SpO2 ≥ 90 %.

- Theo dõi sát tình trạng người bệnh để phát hiện những dấu hiệu nặng, thất bại với liệu pháp thở ô xy để có can thiệp kịp thời.

3.2. Điều trị suy hô hấp nguy kịch & ARDS

- Khi tình trạng giảm ô xy máu không được cải thiện bằng những biện pháp thở ô xy, SpO2 ≤ 92%, hoặc/và gắng sức hô hấp: rất có thể suy xét chỉ định thở thở ô xy dòng cao qua gọng mũi (High Flow Nasal Oxygen), CPAP, hoặc thở máy không xâm nhập BiPAP.

- Không áp dụng biện pháp thở máy không xâm nhập ở người bệnh có rối loạn huyết động, suy công dụng đa cơ quan, và rối loạn ý thức.

- Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh để phát hiện những dấu hiệu thất bại để có can thiệp kịp thời. Nếu tình trạng thiếu ô xy không cải thiện với những biện pháp hỗ trợ hô hấp không xâm nhập, cần đặt ống nội khí quản và thở máy xâm nhập.

- Cần đặt ống nội khí quản bởi người có kinh nghiệm, áp dụng những biện pháp dự trữ lây nhiễm qua không khí khi đặt ống nội khí quản.

- Hỗ trợ hô hấp: áp dụng phác đồ hỗ trợ hô hấp trong ARDS cho người lớn và trẻ em. để ý những điểm sau:

+ Thở máy: áp dụng chiến lược thở máy bảo vệ phổi, với thể tích khí lưu thông thấp (4-8 ml/kg trọng lượng lý tưởng) và áp lực thì thở vào thấp (giữ áp lực cao nguyên hay Pplateau < 30 cmH2O, ở trẻ em, giữ Pplateau < 28 cmH2O). Thể tích khí lưu thông thuở đầu 6 ml/kg, điều chỉnh theo sự đáp ứng của người bệnh và theo mục tiêu điều trị.

+ chấp thuận tăng CO2, giữ đích pH ≥ 7.20.

+ Trường hợp ARDS nặng ở người lớn, suy xét áp dụng thở máy ở tư thế nằm sấp 12-16 giờ/ngày (nếu rất có thể).

+ rất có thể áp dụng chiến lược PEEP cao cho ARDS vừa và nặng. Tùy theo độ giãn nở (compliance) của phổi để thiết lập PEEP tương thích.

+ Tránh ngắt kết nối người bệnh khỏi máy thở dẫn tới mất PEEP và xẹp phổi. Nên sử dụng hệ thống hút nội khí quản kín.

+ Ở trẻ em và trẻ sơ sinh, rất có thể thở máy cao tần (HFOV-High Frequency Oscillatory Ventilation) sớm (nếu có), hoặc khi thất bại với thở máy thông thường. Không sử dụng HFOV cho người lớn.

+ Cần đảm bảo an thần, giảm đau thích hợp khi thở máy. Trong trường hợp ARDS vừa- nặng, rất có thể dùng thuốc giãn cơ, nhưng không nên dùng thường quy.

- Kiểm soát cân bằng dịch chặt chẽ, tránh quá tải dịch, đặc biệt ngoài giai đoạn bù dịch hồi sức tuần hoàn.

- Trường hợp thiếu ô xy nặng, dai dẳng, thất bại với những biện pháp điều trị thông thường, suy xét chỉ định và sử dụng những kỹ thuật trao đổi ô xy qua màng ngoài cơ thể (ECMO) cho từng trường hợp cụ thể và tiến hành ở những nơi có đủ điều kiện triển khai kỹ thuật này.

- Do ECMO chỉ rất có thể tiến hành được ở một số cơ sở y tế lớn, nên trong trường hợp suy xét chỉ định ECMO, những cơ sở cần liên hệ, vận chuyển người bệnh sớm và tuân thủ quy trình vận chuyển người bệnh do Bộ Y tế quy định.

4. Điều trị sốc nhiễm trùng

Áp dụng phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng cho người lớn và trẻ em. để ý một số điểm sau:

4.1. Hồi sức dịch

- Sử dụng dịch tinh thể đẳng trương như nước muối sinh lý hay Ringer lactat. Tránh dùng những dung dịch tinh thể nhược trương, dung dịch Haes-steril, Gelatin để hồi sức dịch.

- Liều lượng:

+ Người lớn: truyền nhanh 250-500 ml, trong 15-30 phút đầu, đánh giá những dấu hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.

+ Trẻ em: 10-20 ml/kg, truyền tĩnh mạch nhanh trong 30-60 phút đầu, nhắc lại nếu thiết yếu, đánh giá những dấu hiệu quá tải dịch sau mỗi lần bù dịch nhanh.

- Cần theo dõi sát những dấu hiệu của quá tải dịch trong những khi hồi sức dịch như suy hô hấp nặng hơn, gan to, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phổi có ran ẩm, phù phổi…nếu xuất hiện, cần giảm hoặc dừng truyền dịch.

- Theo dõi những dấu hiệu cải thiện tưới máu: huyết áp trung bình > 65 mgHg cho người lớn và theo lứa tuổi ở trẻ em; lượng nước tiểu (>0.5 ml/kg/giờ cho người lớn, và >1 ml/kg/giờ cho trẻ em), cải thiện thời gian làm đầy mao mạch, màu sắc da, tình trạng ý thức, và nồng độ lactat trong máu.

4.2. Thuốc vận mạch

Nếu tình trạng huyết động, tưới máu không cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.

- Người lớn: nor-adrenaline là lựa chọn thuở đầu, điều chỉnh liều để đạt đích huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và cải thiện tưới máu. Nếu tình trạng huyết áp và tưới máu không cải thiện hoặc có rối loạn công dụng tim dù đã đạt được đích MAP với dịch truyền và thuốc co mạch, rất có thể cho thêm dobutamine.

- Trẻ em: adrenaline là lựa chọn thuở đầu, rất có thể cho dopamin, hoặc dobutamine. Trong trường hợp sốc giãn mạch (áp lực mạch hay chênh lệch huyết áp tối đa và tối thiểu >40 mmHg), suy xét cho thêm nor-adrenaline. Điều chỉnh liều thuốc vận mạch để đạt đích MAP > 50th bách phân vị theo lứa tuổi.

- Sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung tâm để truyền những thuốc vận mạch. Nếu không tồn tại đường truyền tĩnh mạch trung tâm, rất có thể dùng đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc truyền trong xương. Theo dõi những dấu hiệu vỡ mạch và hoại tử.

- rất có thể sử dụng những biện pháp thăm dò huyết động xâm nhập hoặc không xâm nhập tùy điều kiện tại mỗi cơ sở để đánh giá và theo dõi tình trạng huyết động để điều chỉnh dịch và những thuốc vận mạch theo tình trạng người bệnh.

4.3. Cấy máu và thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm trong vòng một giờ xác định sốc nhiễm trùng.

4.4. Kiểm soát đường máu, (giữ nồng độ đường máu từ 8-10 mmol/L), can xi máu, albumin máu, (truyền albumin khi nồng độ albumin < 30 g/L, giữ albumin máu ≥ 35 g/L).

4.5. Trường hợp có những yếu tố nguy cơ suy thượng thận cấp, hoặc sốc phụ thuộc catecholamine: rất có thể cho hydrocorticone liều thấp: Người lớn hydrocortisone 50 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ; trẻ em 2 mg/kg/liều thứ nhất, sau đó 0,5-1,0 mg/kg mỗi 6 giờ.

4.6. Truyền khối hồng cầu khi cần, giữ nồng độ huyết sắc tố ≥ 10 g/dl.

5. Điều trị hỗ trợ công dụng những cơ quan

Tùy từng tình trạng cụ thể của mỗi người bệnh để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp.

- Hỗ trợ công dụng thận:

+ Đảm bảo huyết động, cân bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu khi thiết yếu.

+ Nếu tình trạng suy thận nặng, suy công dụng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định áp dụng những biện pháp thận thay thế như lọc máu liên tục, lọc máu ngắt quãng, hoặc thẩm phân phúc mạc tùy điều kiện của cơ sở điều trị.

- Hỗ trợ công dụng gan: nếu có suy gan

- Điều chỉnh rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu, plasma tươi, những yếu tố đông máu nếu thiết yếu. Nếu D-dimer tăng từ 500- 1000 µg/L, sử dụng enoxaparine liều dự trữ; Nếu D-dimer tăng trên 1000 µg/L, dùng enoxaparine liều điều trị.

6. những biện pháp điều trị khác

6.1. Thuốc kháng sinh

- Không sử dụng thuốc kháng sinh thường quy cho những trường hợp viêm đường hô hấp trên đơn thuần.

- với những trường hợp viêm phổi, cấy máu và cấy đờm tìm vi khuẩn và suy xét sử dụng kháng sinh thích hợp theo kinh nghiệm có tác dụng với những tác nhân vi khuẩn rất có thể đồng nhiễm gây viêm phổi, (tùy theo lứa tuổi, dịch tễ, để gợi ý căn nguyên). Điều chỉnh kháng sinh thích hợp theo kháng sinh đồ khi có kết quả phân lập vi khuẩn.

- Nếu có tình trạng nhiễm trùng huyết, cần cho kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm sớm, trong vòng một giờ từ khi xác định nhiễm trùng huyết. Điều chỉnh kháng sinh thích hợp khi có kết quả vi khuẩn và kháng sinh đồ.

- những trường hợp nhiễm trùng thứ phát, tùy theo căn nguyên, tính chất dịch tễ, kháng kháng sinh để lựa chọn kháng sinh thích hợp.

6.2. Thuốc kháng vi rút

Hiện nay vẫn chưa xuất hiện thuốc điều trị đặc hiệu cho SARS-CoV-2 và minh chứng về kết quả, tính an toàn của những thuốc kháng vi rút ức chế sao chép ngược (Antiretroviral hay ARV) và những thuốc kháng vi rút khác (như Chloroquine/Hydroxychloroquine, Remdesivir, Ribavirin). (Bộ Y tế sẽ đưa ra khuyến nghị sau khi đánh giá kết quả những thử nghiệm lâm sàng của toàn cầu và Việt Nam).

6.3. Corticosteroids toàn thân

- Không sử dụng những thuốc corticosteroids toàn thân thường quy cho viêm đường hô hấp trên hoặc viêm phổi do vi rút trừ khi có những chỉ định khác.

- những trường hợp sốc nhiễm trùng, sử dụng hydrocortisone liều thấp nếu có chỉ định (xem phần điều trị sốc nhiễm trùng).

- Tùy theo tiến triển lâm sàng và hình ảnh X-quang phổi của từng trường hợp viêm phổi nặng, rất có thể sử dụng Dexamethasone trong thời gian 5-10 ngày.

6.4. Lọc máu ngoài cơ thể

những trường hợp ARDS nặng và/hoặc sốc nhiễm trùng nặng không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với những biện pháp điều trị thường. suy xét sử dụng những biện pháp lọc máu liên tục ngoài cơ thể bằng những loại quả lọc có khả năng hấp phụ cytokines.

6.5. Immunoglobuline truyền tĩnh mạch (IVIG)

Tùy từng trường hợp cụ thể, rất có thể suy xét sử dụng IVIG cho những trường hợp bệnh nặng, và/hoặc hội chứng viêm hệ thống ở trẻ em.

6.6. Interferon

rất có thể suy xét sử dụng interferon cho từng trường hợp cụ thể (nếu có) hoặc những thuốc kích thích sinh Interferon nội sinh.

6.7. Phục hồi công dụng hô hấp

suy xét điều trị phục hồi công dụng hô hấp sớm cho những người bệnh có suy hô hấp.

6.8. Phát hiện và xử trí những biểu lộ thần kinh và tâm thần.

- Đánh giá và điều trị mê sảng, đặc biệt những bệnh nhân nặng: áp dụng những thang điểm đánh giá sảng, xác định và xử lý nguyên nhân và có những biện pháp điều trị sảng thích hợp.

- Đánh giá những dấu hiệu lo âu và trầm cảm; áp dụng những biện pháp hỗ trợ tâm lý xã hội và những can thiệp thích hợp.

- Phát hiện và xử trí những vấn đề về rối loạn giấc ngủ.

- Hỗ trợ sức khỏe tâm thần và hỗ trợ tâm lý xã hội cơ bản cho toàn bộ những người nghi ngờ hoặc xác nhận mắc COVID-19.

7. dự trữ biến chứng

với những trường hợp nặng điều trị tại những đơn vị hồi sức tích cực, cần dự trữ những biến chứng hay gặp sau:

7.1. Viêm phổi liên quan tới thở máy

Áp dụng và tuân thủ gói dự trữ viêm phổi liên quan tới thở máy:

- Nên đặt ống NKQ đường miệng.

- Đặt người bệnh nằm tư thế đầu cao 30-45 độ.

- dọn dẹp răng miệng.

- Sử dụng hệ thống hút kín, định kỳ làm thoát nước đọng trong dây máy thở.

- Sử dụng bộ dây máy thở mới cho từng bệnh nhân; chỉ thay dây máy thở khi bẩn hoặc hư hỏng trong những khi người bệnh đang thở máy.

- Thay bình làm ấm/ẩm khi bị hỏng, bẩn, hoặc sau mỗi 5-7 ngày.

7.2. dự trữ huyết khối tĩnh mạch

- Người lớn hoặc trẻ lớn nhập viện, dùng Heparine trọng lượng phân tử thấp, (liều lượng theo lứa tuổi và cân nặng) tiêm dưới da, 2 lần/ngày nếu không tồn tại chống chỉ định.

- Nếu có chống chỉ định; sử dụng những biện pháp cơ học.

- Theo dõi bệnh nhân COVID-19 nếu có những dấu hiệu nghi ngờ tắc mạch như đột quỵ, tắc mạch sâu, nhồi máu phổi, hội chứng vành cấp. Nếu có những dấu hiệu nghi ngờ, cần áp dụng những biện pháp chẩn đoán và điều trị thích hợp.

7.3. Nhiễm trùng máu liên quan tới đường truyền trung tâm

Sử dụng bảng kiểm để theo dõi áp dụng những gói dự trữ khi đặt đường truyền và chăm sóc đường truyền trung tâm. Rút đường truyền trung tâm khi không thiết yếu.

7.4. Loét do tỳ đè

Xoay trở người bệnh thường xuyên

7.5. Viêm loét dạ dày do stress và xuất huyết tiêu hóa

- Cho ăn qua đường tiêu hóa sớm (trong vòng 24-48 giờ sau nhập viện)

- Dùng thuốc kháng H2 hoặc ức chế bơm proton cho những người bệnh có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa như thở máy ≥ 48 giờ, rối loạn đông máu, điều trị thay thế thận, có bệnh gan, nhiều bệnh nền kèm theo, và suy công dụng đa cơ quan.

7.6. Yếu cơ liên quan tới điều trị hồi sức

Khi rất có thể, tích cực cho vận động sớm trong quy trình điều trị.

8. Một số quần thể đặc biệt

8.1. Phụ nữ mang thai:

Khi nghi ngờ hoặc khẳng định nhiễm SARS-CoV-2 rất cần phải điều trị theo những biện pháp như trên, tuy nhiên cần để ý tới những thay đổi sinh lý khi mang thai.

8.2. Người cao tuổi.

Người cao tuổi với những bệnh lý nền kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong. Chăm sóc và điều trị cần phối hợp những chuyên khoa, cần để ý tới những thay đổi sinh lý ở người cao tuổi, cũng như tương tác thuốc trong quy trình điều trị.

IX. TIÊU CHUẨN XUẤT VIỆN

1. Người bệnh được xuất viện khi có đủ những tiêu chuẩn sau:

- Hết sốt ít nhất 3 ngày.

- những triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, những dấu hiệu sống sót ổn định, công dụng những cơ quan bình thường, xét nghiệm máu trở về bình thường, X-quang phổi cải thiện.

- Ba mẫu bệnh phẩm (những mẫu lấy cách nhau ít nhất 1 ngày) xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 bằng phương pháp realtime RT-PCR.

2. Theo dõi sau xuất viện

Người bệnh cần tiếp tục được cách ly tương thích tận nơi dưới sự giám sát giám sát của y tế cơ sở và CDC địa phương thêm 14 ngày nữa và theo dõi thân nhiệt tận nơi 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở hai lần đo liên tiếp hoặc có những dấu hiệu bất thường khác, phải đến khám lại ngay tại những cơ sở y tế.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *