Ngày 30/10, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký phát hành Nghị quyết số 04-NQ/TW. Trong số đó chỉ rõ 27 thể hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng – chính trị, đạo đức – lối sống và những thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Đồng thời, cũng cung ứng 4 nhóm giải pháp khắc phục. Mời bạn đọc cùng xem thêm chi tiết nội dung 27 thể hiện suy thoái tự diễn biến, tự chuyển hóa và 4 nhóm giải pháp khắc phục để dễ dàng hơn trong việc viết bản kiểm điểm Đảng viên. Mời những bạn cùng xem thêm nội dung chi tiết tại đây.

27 thể hiện suy thoái tự diễn biến, tự chuyển hóa

  • Nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức bằng những thể hiện cụ thể
    • thể hiện suy thoái về tư tưởng chính trị
    • thể hiện về suy thoái đạo đức, lối sống
    • thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
  • 27 thể hiện suy thoái tự diễn biến, tự chuyển hóa
    • 9 thể hiện suy thoái về tư tưởng chính trị
    • 9 thể hiện suy thoái về đạo đức, lối sống
    • 9 thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ
  • 4 nhóm giải pháp khắc phục 27 thể hiện suy thoái
    • Nhóm giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình
    • Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách
    • Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
    • Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, những đoàn thể chính trị-xã hội

Nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức bằng những thể hiện cụ thể

Số TT thể hiện LIÊN HỆ
rất có thể hiện Không rất có thể hiện
I

thể hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

1 Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2 Hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
3 Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng.
4 Không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
5 Phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.
6 Nhận thức sai lệch về ý nghĩa sâu sắc, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị.
7 Lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp lý của Nhà nước.
8 Không chấp hành nghiêm những nguyên tắc tổ chức của Đảng.
9 Sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác.
10 tránh mặt trách nhiệm, thiếu trách nhiệm.
11 Trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém kết quả.
12 không hề ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.
13 Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm.
14 Khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật.
15 Trong phê bình thì nể nang, tránh mặt, ngại va quệt, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh.
16 Lợi dụng tự phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.
17 Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước.
18 Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít, nói một đằng, làm một nẻo.
19 Nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác.
20 Nói và làm không nhất quán khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.
21 Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình.
22 Không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.
23 Tham vọng chức quyền.
24 Không chấp hành sự phân công của tổ chức.
25 Kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó.
26 Không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn.
27 Tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.
28 Có “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ triệu tập giải quyết những vấn đề thời gian ngắn trước mắt, có lợi cho mình.
29 Bổ nhiệm người thân, người quen dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.
II

thể hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

30 Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, thời cơ, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể.
31 Ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.
32 Vi phạm nguyên tắc triệu tập dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ.
33 Đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.
34 Cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền.
35 Độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong lãnh đạo, điều hành.
36 Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.
37 Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi.
38 Thích được tôn vinh, ca tụng.
39 “Chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”,”chạy danh hiệu”.
40 Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở.
41 Thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
42 Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.
43 Quyết định hoặc tổ chức triển khai gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…
44 Đầu tư công tràn ngập, kết quả thấp hoặc không kết quả.
45 Mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định.
46 Chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc.
47 Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực.
48 Phí phạm thời gian lao động.
49 Tham ô, tham nhũng.
50 Lợi dụng chức vụ quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi.
51 Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.
52 Thao túng trong công tác cán bộ.
53 Chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội…
54 Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân.
55 Để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của tôi để trục lợi.
56 Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan.
57 Ủng hộ hoặc tham gia những tổ chức tôn giáo phi pháp.
58 Sa vào những tệ nạn xã hội.
59 Vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa đẹp đẽ của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.
III

thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

60 Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc triệu tập dân chủ.
61 Đòi triển khai “đa nguyên, đa đảng”.
62 Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
63 Đòi triển khai thiết chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”.
64 Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai.
65 Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước.
66 Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước.
67 Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo những lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
68 Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ.
69 Lợi dụng và sử dụng những phương tiện thông tin, truyền thông, MXH để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
70 Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an.
71 Xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
72 Chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
73 Móc nối, cấu kết với những quyền lực thù địch, phản động và những phần tử thời cơ, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập.
74 Vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.
75 Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
76 Thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với những nước.
77 Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật.
78 Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng.
79 Cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội.
80 Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.
81 Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan.
82 Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa những dân tộc, giữa những tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa những dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

27 thể hiện suy thoái tự diễn biến, tự chuyển hóa

27 biểu hiện suy thoái tự diễn biến, tự chuyển hóa

9 thể hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa sâu sắc, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước.

4) Không chấp hành nghiêm những nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; tránh mặt trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém kết quả; không hề ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, tránh mặt, ngại va quệt, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

9) Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ triệu tập giải quyết những vấn đề thời gian ngắn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

9 thể hiện suy thoái về đạo đức, lối sống

1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, thời cơ, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2) Vi phạm nguyên tắc triệu tập dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong lãnh đạo, điều hành.

3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

4) Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được tôn vinh, ca tụng; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

6) Quyết định hoặc tổ chức triển khai gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn ngập, kết quả thấp hoặc không kết quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của tôi để trục lợi.

9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia những tổ chức tôn giáo phi pháp. Sa vào những tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá đẹp đẽ của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

9 thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc triệu tập dân chủ; đòi triển khai “đa nguyên, đa đảng”.

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi triển khai thiết chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo những lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng những phương tiện thông tin, truyền thông, MXH để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với những quyền lực thù địch, phản động và những phần tử thời cơ, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với những nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa những dân tộc, giữa những tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa những dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

4 nhóm giải pháp khắc phục 27 thể hiện suy thoái

Nhóm giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình

1) triệu tập lãnh đạo, lãnh đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa sâu sắc, vai trò, tầm quan trọng và sự rất cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung ứng thông tin, update kỹ năng mới tương thích từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. triển khai nghiêm túc, có kết quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong thái Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị.

2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những quy mô mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận tương thích với đường lối đổi mới của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tại, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, kết quả.

3) Xây dựng và triển khai có kết quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, Trong số đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực những mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; những cấp uỷ, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc triển khai cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

4) Hoàn thiện và triển khai nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là những đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp uỷ những cấp.

5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, tránh mặt, ngại va quệt và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, lãnh đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi rất có thể hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, tương thích; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở những cấp, những ngành định kỳ hoặc đột xuất.

6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, MXH. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của những cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chủ động định hướng, cung ứng thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.

7) Chủ động chuẩn bị những phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có kết quả đối với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của những quyền lực thù địch, phản động, phần tử thời cơ và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

8) Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức forum trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm không giống nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp lý của Nhà nước.

9) Cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu những cấp phải xây dựng kế hoạch, triệu tập lãnh đạo, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong thái làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những cấp.

10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả triển khai nhiệm vụ được giao; kết quả triển khai cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; kết quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

1) những cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo rà soát, hoàn thiện và triển khai nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng quy trình giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ nhiệm đối với cán bộ làm việc kém kết quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm những vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2) những cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo rà soát, hoàn thiện những quy định, văn bản quy phạm pháp lý về quản lý, điều hành bảo đảm công khai minh bạch, minh bạch, góp phần xoá bỏ cơ chế “xin – cho”, “duyệt – cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, Thuế VAT, hải quan, phân chia, quản lý và sử dụng biên chế… Tăng cường kết quả công tác phòng, chống rửa tiền, chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt.

3) Kiên quyết triển khai đúng mục tiêu, có kết quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách cơ chế công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương. triển khai cơ chế hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và triển khai chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước.

4) Đẩy mạnh xã hội hoá, tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất Marketing ra khỏi tác dụng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, kết quả hoạt động của những cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức. Rà soát, thoái vốn, cổ phần hoá, chấn chỉnh hoạt động của những doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất Marketing thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện những quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, “liên hoan”, “gặp mặt” không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,… nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa những cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong trắng về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm những đối tượng chống đối, phần tử thời cơ, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở quốc tế. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức triển khai những nghị quyết, Tóm lại của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân phát hành văn bản không đúng, không tương thích hoặc triển khai không nghiêm túc những nội dung nghị quyết, Tóm lại của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân triển khai có kết quả.

2) những cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai minh bạch kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp uỷ những cấp lãnh đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và kết quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt những cấp có nhiều dư luận.

3) Nâng cao kết quả hoạt động của Ban lãnh đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của uỷ ban kiểm tra những cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên. Rà soát, hoàn thiện những quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.

4) Tăng thẩm quyền và tôn vinh trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém kết quả trong triển khai chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, đánh giá tư cách đảng viên và phối hợp với những cơ quan tác dụng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của những cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và những cơ quan tư pháp để nâng cao kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp lý; trước mắt triệu tập xử lý dứt điểm những vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai minh bạch kết quả xử lý.

6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, triển khai nghiêm những nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai minh bạch, minh bạch, công minh. Cấp uỷ những cấp lãnh đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không hề đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

7) triển khai nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên. Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai minh bạch theo quy định.

8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải phụ trách nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với những thể hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, những đoàn thể chính trị-xã hội

1) những cấp uỷ, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và triển khai nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và những đoàn thể chính trị-xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị quy định về sự việc Mặt trận Tổ quốc và những đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, những đoàn thể chính trị-xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. triển khai nghiêm túc, có kết quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, triệu tập giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân.

3) Nâng cao chất lượng, kết quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân những cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp lý của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

4) Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền những cấp phải triển khai nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những thể hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và triển khai Quy định về sự việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.

5) Xây dựng và triển khai cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Trung ương tin tưởng rằng, với truyền thống cách mạng vẻ vang và thực chất đẹp đẽ của Đảng, ý thức tự giác của từng cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của từng đồng chí Uỷ viên Trung ương, người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền những cấp và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định toàn Đảng sẽ triển khai thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết, để Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị và tư tưởng, thống nhất cao về ý chí và hành động, trong trắng về đạo đức và lối sống, chặt chẽ về tổ chức, đủ sức lãnh đạo đưa giang sơn ngày càng phát triển, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *